Kiến thức của chúng tôi – Giá trị thực của bạn!

Sua doi luat doanh nghiep 2005

“Buôn có bạn, bán có phường” Có nhiều lý do để người buôn phải hợp sức với nhau, phần vì cần thêm vốn liếng, phần bởi chia sẽ rủi ro, phần cũng để có thêm quan hệ và mối làm ăn. Hợp danh hay hùn hạp đã ra đời từ cổ xưa. Đây là loại hình kinh doanh được du nhập từ Anh – Mỹ. Tuy nhiên nó chưa thực sự phù hợp tại nước ta.

Phần quy định về công ty hợp danh đã được mở rộng thành 11 điều trong Luật Doanh Nghiệp 2005, hy vọng cung cấp cho giới thương nhân thêm một mô hình để lựa chọn cho phù hợp với ý tưởng kinh doanh của mình. Vì nhiều nguyên nhân, mô hình này đã thất bại, doanh nhân Việt Nam hầu như không lựa chọn loại hình công ty này.

Nếu DNTN đều là mô hình kinh doanh do một cá nhân làm chủ, thì ngược lại, hợp doanh trước hết là sự liện kết của hai hay nhiều người, có thể bao gồm cả cá nhân và tổ chức. Nhóm người ấy góp vốn, góp sức mà kinh doanh dựa trên thỏa thuận. Khi cần công khai hóa sự hợp tác ấy, họ có thể lựa họn một trong vô số hình khác nhau:

Hoặc chọn mô hình công ty ( công ty Trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần);

Hoặc chọn mô hình hợp tác xã;

Hoặc giản đơn hơn chọn mô hình hộ kinh doanh do nhiều người cùng đứng tên;

Hoặc chọn mô hình tổ hợp tác theo dân luật (Điều 111-120 BLDS);

Hoặc lựa chọn công ty hợp doanh

Hoặc chỉ để một người đứng tên công khai, ví dụ dưới mô hình DNTN hay Cty TNHH một thành viên, những người khác tuy cùng vốn và cùng hưởng lãi, song không hề xuất hiện trong hồ sơ đăng ký kinh doanh.

Có nhiều lý do và toan tính khi người ta quyết định lựa chọn một trong các phương án kể trên, một phần tùy thuộc vào tính ổn định lâu dài của liên kết, một phần khác do cân nhắc các tiện ích mà từng mô hình có thể mang lại cho nhóm người kinh doanh này. Các tiện ích có thể là lợi thế về thuế, về chi phí thành lập doanh nghiệp, về khả năng dễ dàng chuyển nhượng vốn góp, sự tiện lợi trong quản trị doanh nghiệp và các lý do khác.

Công ty hợp danh theo pháp luật Việt Nam là một danh nghiệp có ít nhất hai thành viên là cá nhân chịu trách nhiệm vô hạnliên đới về các khoản nợ của doanh nghiệp. Doanh nghiệp này có tên riêng; sau khi được ĐKKD, hợp danh trở thành một pháp nhân độc lập với các sáng lập viên đã tạo ra nó. Ngoài các thành viên hợp danh, một công ty hợp danh còn có thể có thêm một hoặc nhiều cá nhân khác góp vốn ( thành viên góp vốn) chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.

Đặc điểm của công ty hợp danh

Vì hợp danh trước hết là liên kết của hai hay nhiều người, luật pháp các nước thường đề cao thỏa thuận giữa các thành viên. Hợp danh về nguyên tắc được thiết lập nếu các thành viên đã thỏa thuận cách thức hùn vốn, tạo tài sản chung, chia quyền điều hành và lỗ, lãi.

Nhược điểm của công ty hơp danh

Nếu được quyền tự do lựa chọn, người ta có thể ngần ngại trước mô hình công ty hợp danh theo LDN 2005 bởi những lẽ dưới đây:

1). Mô hình này buộc thành viên hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn, tức là không giới hạn được rủi ro trong số vốn đã góp vào kinh doanh, và liên đới, tức là có thể phải gánh chịu cả rủi roc ho hành vi của bạn buôn.

 2). Việc quản lí cơ sở kinh doanh có thể khó khăn, vì tất cả các thành viên hợp danh đều có quyền dự họp, thảo luận và biểu quyết, thậm chí mỗi thành viên có thể có một phiếu biểu quyết với cách thức dân chủ có thể so sánh được với các HTX, cơ chế đồng thuận này có làm cho việc quyết định kinh doanh đôi khi trở nên mất thời gian.

 3). Việc rút lui, bán lại phần vốn góp trong cơ sở kinh doanh không dễ dàng, vì cần phải được các thành viên hợp danh còn lại chấp nhận, Điều 133.3, Điều 134.1.a LDN.

4). Ngoài ra , các quy định về công ty hợp danh của LDN chỉ mang tính nguyên tắc, nếu thiếu thỏa thuận chi tiết, xung đột lợi ích giữa các thành viên khó có thể điều hòa được một cách ổn thỏa.

5). Thêm nữa, hợp danh cũng phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp như các công ty khác, bởi vậy mô hình này không mang lại một ưu thế đáng kể nào về thuế đối với người kinh doanh, Điều 2.a luật thuế TNDN 2008. Phần lợi nhuận của từng thành viên của công ty hợp danh lại phải chịu thuế thu nhập cá nhân, Điều II.3.3 TT84/2008/TT-BTC hướng dẫn thi hành Điều 3.1.a luật thuế TNCN 2008. Những điều trên đây góp phần lí giải tại sao hợp danh không được giới kinh doanh chào đón.

Tại TPHCM, theo thống kê của sở KH&ĐT, từ năm 1995 đến hết năm 2010 mới chỉ có 9 côn công ty hợp danh được thành lập.

Le minh quan

Lê Minh Quân

Công Ty Tư Vấn Quản Lý Chính Phương

Comments on: "Công ty hợp danh và 5 nhược điểm" (1)

  1. Chào bạn!

    Cám ơn bài viết bạn đã chia sẻ.

    Bài vết của bạn rất hữu ích. tôi thích ý này:

    “Buôn có bạn, bán có phường” Có nhiều lý do để người buôn phải hợp sức với nhau, phần vì cần thêm vốn liếng, phần bởi chia sẽ rủi ro, phần cũng để có thêm quan hệ và mối làm ăn. Hợp danh hay hùn hạp đã ra đời từ cổ xưa. Đây là loại hình kinh doanh được du nhập từ Anh – Mỹ. Tuy nhiên nó chưa thực sự phù hợp tại nước ta.

    Chúc bạn sức khỏe, luôn thành công, gia đình hạnh phúc.

    Lý Thị Bích Phượng

    http://cachchamsocdadep.wordpress.com/

    https://www.facebook.com/ly.phuong.9883

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Mây thẻ

%d bloggers like this: